Ô nhiễm không khí: Cái giá phải trả cho quy hoạch không phù hợp

150

[Triệu Phú BĐS“Không ai an toàn trước ô nhiễm không khí”, đó là lời cảnh báo của Liên Hợp Quốc vào Ngày Môi trường thế giới năm nay, với 9/10 người trên hành tinh đang phải hít thở không khí ô nhiễm. Theo Tổ chức Y tế thế giới WHO, điều này dẫn đến một cuộc khủng hoảng sức khỏe toàn cầu, gây ra khoảng 7 triệu ca tử vong mỗi năm, trong đó khu vực Châu Á - Thái Bình Dương có gần 4 triệu người.

Hà Nội và một số thành phố lớn khác ở Việt Nam cũng đang nỗ lực thực hiện nhiều giải pháp để giải quyết vấn đề ô nhiễm không khí (ÔNKK) tại địa phương. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, Tạp chí Kinh tế Môi trường đã có cuộc trao đổi với TS. Hoàng Dương Tùng - Chủ tịch Mạng lưới không khí sạch Việt Nam (VCAP).

PV: Thưa ông, tình trạng ÔNKK ở các đô thị lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh… ngày càng nghiêm trọng hơn.Là một chuyên gia về môi trường, đặc biệt nghiên cứu về mạng lưới không khí sạch tại Việt Nam, theo ông vấn đề này cần được nhìn nhận như thế nào?

TS. Hoàng Dương Tùng: Hà Nội và một số đô thị ở nước ta đang ở trong tình trạng ô nhiễm bụi mịn rất nghiêm trọng. Có thể thấy, đây chính là cái giá phải trả cho sự phát triển không có quy hoạch, không chú ý đến chất lượng cuộc sống của người dân. Quan trọng là phải làm, phải thực hiện chứ không thể nói suông được. Ðể đánh giá chất lượng không khí của một năm, chúng ta cần thêm số liệu, nhưng rõ ràng so với các năm trước, theo số liệu quan trắc có được cho thấy, số lượng ngày ô nhiễm tương đối nhiều, đặc biệt tình trạng ô nhiễm trong thời điểm tháng 9 năm nay có các chỉ số AQI (chỉ số chất lượng không khí - PV) liên tục cao. Trong đó, có những điều kiện về nguồn ô nhiễm, yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng không khí khiến ô nhiễm các đô thị gia tăng.

Nếu không có biện pháp khắc phục thì dự báo những giờ ô nhiễm trong ngày càng tăng, mức độ ô nhiễm càng cao. Ðã có rất nhiều bài học ở một số TP của châu Á như Bắc Kinh, Băng Cốc, nếu chúng ta không giảm thiểu các nguồn gây ô nhiễm thì không khí của chúng ta sẽ tiếp tục ô nhiễm càng nghiêm trọng hơn.

TS. Hoàng Dương Tùng - Chủ tịch Mạng lưới không khí sạch Việt Nam (VCAP)

PV: Vậy đâu là những tác nhân chính của ÔNKK hiện nay, xin ông phân tích cụ thể? 

TS. Hoàng Dương Tùng: Nguyên nhân ÔNKK đã được nhắc đến rất nhiều, cần nhận định rõ, ô nhiễm không khí hiện nay chủ yếu xảy ra do các hoạt động dân sinh, cộng thêm các nguồn ô nhiễm khác từ giao thông, xây dựng, sản xuất không giảm. Bên cạnh đó, còn có các nguồn phát sinh khác như điều kiện về khí tượng, thời tiết. Hiện tượng thời tiết khí hậu không thuận lợi cho sự khuếch tán không khí, nhiều ngày gió lặng, phản ứng nghịch nhiệt xảy ra, không khí không khuếch tán được.

Ðây cũng là thời điểm sau thu hoạch vụ mùa, các vùng nông thôn xung quanh Hà Nội, bà con đốt rơm rạ rất nhiều, càng làm tăng thêm khói bụi, bầu không khí ngột ngạt, nguy cơ ô nhiễm ở các vùng quê phải đối mặt cũng không kém đô thị. Phải làm ngay bằng cách nào để nhân dân và chính quyền cần quyết tâm hơn nữa, mặc dù đã nói đến nhiều chế tài, thanh tra, xử phạt nhưng rất khó khả thi. Mà chúng ta phải có cơ chế, chế tài để thu gom rơm rạ hợp lý và có kế hoạch để cung cấp cho những nơi cần phục vụ cho hoạt động nông nghiệp.

PV: Vậy các nguyên nhân này có cho thấy quy luật nào của ÔNKK không, thưa ông?

TS. Hoàng Dương Tùng: Rất khó để đưa ra quy luật nào đó của ÔNKK. Chỉ số chất lượng không khí mang tính thời điểm nên vai trò của việc đo đạc, cảnh báo để người dân nắm bắt thông tin, từ đó có biện pháp ngăn ngừa cho chính bản thân mình, là biện pháp tức thời mà chúng ta cần phải làm trước tiên. ÔNKK thường xảy ra vào mùa đông, những ngày ít mưa, lặng gió, nhưng cũng chưa thể kết luận được theo quy luật nào. Như tôi phân tích các nguyên nhân ở trên, từ tháng 9 vừa qua cùng với hiện tượng nghịch nhiệt cao mà chúng ta có thể dễ dàng quan sát bằng mắt thường, đó là điều kiện để ô nhiễm ngày càng gia tăng. 

PV: Người dân có thể tiếp cận các kênh thông tin chính thống nào với chỉ số chất lượng không khí chính xác nhất, thưa ông?

TS. Hoàng Dương Tùng: Người dân có thể cập nhật trên Cổng thông tin quan trắc môi trường của UBND TP Hà Nội: www.moitruongthudo.vn, và website của Tổng cục Môi trường www.vea.gov.vn, các ứng dụng chỉ là thông tin để tham khảo, họ tính ô nhiễm theo giờ. 

Ba "trụ cột" để quản lý chất lượng không khí

PV: Rõ ràng, việc quy hoạch hạ tầng giao thông và phát triển ồ ạt các dự án nhà ở với mật độ dày đặc, xây dựng tràn lan, phá vỡ cảnh quan môi trường gây ra những tác động không nhỏ tới môi trường không khí. Vậy chúng ta có chế tài nào để quản lý chất lượng không khí, thưa ông?

TS. Hoàng Dương Tùng: Tôi muốn nói đến ba “trụ cột” để quản lý chất lượng không khí: Dữ liệu các nguồn phát thải, dữ liệu quan trắc không khí và đánh giá tác động đến sức khỏe con người đang được Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện. Các ngành sản xuất thép, xi măng, nhiệt điện, hóa chất…  phải bắt buộc chủ cơ sở lắp đặt thiết bị quan trắc tự động, các số liệu phải được truyền về Sở TN&MT ở địa phương và Bộ TN&MT theo dõi để phản ứng kịp thời khi có các thông số xả thải vượt mức cho phép. 

Thay đổi quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị để giảm thiểu ô nhiễm môi trường là giải pháp lâu dài hướng tới bảo vệ không gian sống.

PV: Tuy nhiên, có thể thấy rằng, về lâu dài, Việt Nam đang thiếu hàng loạt các điều kiện để giảm thiểu ÔNKK, ông nghĩ sao về vấn đề này?

TS. Hoàng Dương Tùng: Ðúng rồi, mặc dù chúng ta có những chính sách, kế hoạch cụ thể như Quyết định số 985a/QÐ-TTg từ ngày 01/6/2016 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý chất lượng không khí đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025, nhưng quá trình thực thi chưa thực sự hiệu quả. Việc theo dõi thường xuyên các trạm quan trắc môi trường tự động, các chương trình quan trắc định kỳ hàng năm của Tổng cục Môi trường là căn cứ để xác định tình trạng ô nhiễm không khí hiện nay. Hiện, Hà Nội chỉ có 3 trạm quan trắc cố định của cơ quan Nhà nước, và có 8 trạm cảm biến do Sở TN&MT quản lý. Ở TP Hồ Chí Minh thì chưa có trạm cố định nào, tại các địa phương khác hiện nay, Tổng cục Môi trường cũng đang phối hợp thực hiện, chỉ một số ít địa phương có lắp đặt và vận hành. Hi vọng với Quyết định đã ban hành, chúng ta sẽ đẩy mạnh hơn nữa việc xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn về chất lượng không khí cho đến những phương pháp để giảm tình trạng ÔNKK, tình trạng bụi mịn trong không khí. Ðược biết, Bộ Tài nguyên và Môi trường thời gian tới sẽ triển khai mạnh mẽ hơn kế hoạch này.

PV: Theo ông, hướng thay đổi quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị như thế nào để giảm thiểu ô nhiễm môi trường, hướng tới bảo vệ không gian sống, liệu chúng ta có nên nghĩ đến một Bộ luật riêng về ÔNKK?

TS. Hoàng Dương Tùng: Cơ quan Nhà nước cũng đã có nhiều nỗ lực để giảm thiểu ÔNKK, không phải bây giờ mà từ những năm đầu thế kỷ 21, ví dụ các hệ thống quan trắc, các quy định về quản lý nguồn thải, các quy chuẩn được thanh tra, xử phạt,… 

Chúng ta cũng nói đến chuyện làm thế nào để cấm xăng pha chì, dùng xăng sinh học, tăng cường hệ thống giao thông công cộng như Hà Nội và TP HCM đã và đang làm, hệ thống cây xanh, hạn chế đầu tư gây ô nhiễm. Nhưng các biện pháp làm chưa tới, nhiều quy định về khí thải còn nhiều hạn chế so với nước thải và chất thải rắn. Việc xây dựng kế hoạch quản lý chất lượng không khí phải có sự đồng lòng của nhân dân, người dân có sẵn sàng đánh đổi sự thuận tiện của các phương tiện cá nhân để chuyển sang phương tiện công cộng hay không. 

Mới đây, Thủ tướng đã chỉ đạo về vấn đề quy hoạch, di dời các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ra khỏi nội đô, nhưng di dời xong lại xây nhà cao tầng thì nó cũng không phải là giải pháp thỏa đáng, nên cần nghiên cứu thay thế những khu đất đó là cây xanh hoặc công viên. Nếu chúng ta cứ cố “nhét” các nhà máy sản xuất vào đó thì không những giao thông tắc nghẽn mà môi trường cũng không đảm bảo. Ðây không phải là chuyện của Việt Nam mà của nhiều nước khác. Chúng ta cần phải nghiêm túc suy nghĩ và hành động.  

Theo kinh nghiệm của các nước thì cũng nên có Luật riêng về nước sạch, chất thải rắn, không khí sạch, như thế có thể nhìn thấy đồng bộ các quy định của Nhà nước để dễ theo dõi, thực hiện. 

PV: Có thể thấy, người dân đô thị đang chịu cảnh sống ô nhiễm không khí, hạ tầng giao thông, sinh hoạt bị quá tải, bức bối, gây hại cho sức khoẻ, mắc bệnh hô hấp… điều này đã được các chuyên gia môi trường cảnh báo từ lâu. Vậy còn có những hệ lụy nào khác nữa không, thưa ông? 

TS. Hoàng Dương Tùng: Các số liệu thống kê từ Bộ Y tế trong những năm gần đây cũng cho thấy các bệnh nhân về đường hô hấp có tỉ lệ mắc cao nhất trên toàn quốc, nguyên nhân chủ yếu là do ÔNKK gây ra, đặc biệt những các thành phố lớn như Hà Nội, HCM, Ðà Nẵng, Ðồng Nai và các tỉnh phía Bắc … Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng nói đây là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu thế giới, thống kê nhiều người chết và bệnh tật vì ÔNKK.

Tác hại của bụi PM2.5 là không thể chối cãi, khi ta hít thở nó sẽ vào sâu trong phổi, trong hệ hô hấp, gây nguy cơ hen suyễn, đây được ví là “kẻ giết người thầm lặng”. Ước tính có khoảng 30% các trường hợp tử vong do ung thư phổi có liên quan đến ÔNKK. Tương tự như vậy, tỉ lệ đột quỵ não cũng như các bệnh lý về tim mạch chiếm khoảng 25%. Riêng đối với bệnh lý hô hấp, các đối tượng bị ảnh hưởng sẽ nhiều hơn rất nhiều, ước tính khoảng 43% các trường hợp tử vong do các bệnh lý hô hấp có liên quan đến ÔNKK. 

ÔNKK không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn ảnh hưởng trực tiếp đối với môi trường, hệ sinh thái, góp phần làm Trái đất nóng lên. Tất cả những điều đó sẽ gây tổn hại sức khỏe, ảnh hưởng đến nền kinh tế. 

PV: Phải chăng ÔNKK cần được nâng lên mức độ cảnh báo thảm hoạ? 

TS. Hoàng Dương Tùng: Có lẽ chưa đến mức là thảm họa vì ÔNKK chỉ mang tính thời điểm, các Bộ, ban ngành và chính quyền nhiều nơi cũng đang rất nỗ lực thực hiện những giải pháp để cải thiện chất lượng không khí hiện nay.  

Trân trọng cảm ơn ông về cuộc trao đổi này!


theo Tạp chí KTMT